:Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu: Công danh đã được hợp(1) về nhàn, Lành dữ âu chi(2) thế nghị(3) khen. Ao cạn vớt bèo c

:Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
Công danh đã được hợp(1) về nhàn,
Lành dữ âu chi(2) thế nghị(3) khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh(4) phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc(5),
Thuyền chở yên hà(6) nặng vạy(7) then.
Bui(8) có một lòng trung lẫn(9) hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.(10)
(Thuật hứng 24 Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi,
NXB Thanh Niên, 2003, tr.87)
(1) Hợp: Tiếng cổ có nghĩa là đáng, nên
(2) Âu chi: Lo chi
(3) Nghị: dị nghị ở đây hiểu là chê
(4) Đìa thanh: Đìa là vũng nước ngoài đồng. Thanh là trong
(5) Đầy qua nóc: Đầy quá nóc nhà, nóc kho
(6) Yên hà: Khói, ráng
(7) Vạy: oằn, cong. Nặng vạy then: chở nặng làm thang thuyền oằn xuống
(8) Bui: tiếng cổ, nghĩa là chỉ có
(9) Lẫn: (hoặc lễn, miễn): tiếng cổ nghĩa là với hoặc và
(10) Mài chăng khuyết mài cũng không mòn, nhuộm cũng không đen. Ý nói lòng trung hiếu bền vững
5. Câu 5. Có ý kiến cho rằng: dù đã lui về ở ẩn, nhưng Nguyễn Trãi chỉ nhàn thân chứ không nhàn tâm. Quan điểm của bạn? Lí giải?
4. Câu 4: Hai câu thơ kết cho ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn gì ở nhà thơ Nguyễn Trãi?

1 bình luận về “:Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu: Công danh đã được hợp(1) về nhàn, Lành dữ âu chi(2) thế nghị(3) khen. Ao cạn vớt bèo c”

  1. 4.
    Hai câu thơ kết cho ta thấy  tấm lòng trung hiếu, thủy chung sâu sắc của ông, nó luôn sáng ngời khiến thể hệ con cháu cảm phục, tự hào.
    5.
    Tôi đồng tình với ý kiến dù đã lui về ở ẩn, nhưng Nguyễn Trãi chỉ nhàn thân chứ không nhàn tâm vì dù đã tìm về cuộc sống đạm bạc, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên, mộ cuộc sống ung dung, tự tại nhưng Nguyễn Trãi vẫn luôn nghĩ về dân tộc, canh cánh trong lòng việc nước, việc dân, lo nghĩ cho vận mệnh quốc gia, nhàn thân chứ không nhàn tâm.

    Trả lời

Viết một bình luận

Câu hỏi mới