ai giúp mình phân tích bài tràng giang với ạ:((

ai giúp mình phân tích bài tràng giang với ạ:((

2 bình luận về “ai giúp mình phân tích bài tràng giang với ạ:((”

  1. Huy Cận Là nhà thơ tiêu biểu, trưởng thành từ phong trào Thơ mới, sự nghiệp sáng tác thơ ca của Huy Cận được chia ra làm hai giai đoạn rõ rệt. Trước CMT8-1945, Huy Cận thường tìm nguồn cảm hứng từ thiên nhiên vạn vật, vũ trụ để gởi gắm nỗi buồn da diết, mênh mông. Sau CMT8, Huy Cận lấy nguồn cảm hứng từ con người, cuộc đời nên nguồn thơ dồi dào,gắn với nhịp đời của đất nước.Phong cách chất trữ tình, triết luận. Các tập thơ tiêu biểu: Lửa thiêng, Bài thơ cuộc đời, Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa.Một trong những bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại rút từ tập “Lửa thiêng” xuất bản năm 1940 là “Tràng giang”. Bài thơ được gợi tứ từ dòng sông Hồng vào mùa thu 1939. Khi ấy, Huy Cận là sinh viên trường cao đẳng Canh Nông đứng ở bờ Nam bến Chèm- Hà Nội nhìn dòng sông Hồng mênh mang sóng nước, lòng chạnh buồn khi nghĩ về cuộc đời nổi trôi nên đã sáng tác bài thơ này. Thông qua bức tranh sông nước lúc chiều tàn, nhà thơ bộc lộ cái tôi cô đơn, nỗi nhớ quê hương, nỗi buồn sông núi da diết của mình.
     “Tràng giang” có nghĩa là sông dài. Đây là từ biến âm của hai chữ Hán Việt “trường giang”. Âm “ang” trong “Tràng giang” được điệp lại tạo nên dư âm vang xa, trầm buồn, tạo nên âm hưởng chung cho toàn bài đồng thời mở ra chiều rộng bát ngát cho dòng sông đồng thời gợi sự liên tưởng đến dòng sông Trường Giang cổ kính của Trung Quốc.
    Đề từ là những lời chỉ dẫn, mách bảo kín đáo về con đường khám phá tác phẩm văn chương. Lời đề từ có thể ví như chiếc chìa khóa ngầm để mở bức thông điệp thực sự của nhà văn. Bài thơ có lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, câu đề từ như thêm lần nữa vén bức rèm bước qua hành lang mở thông vào cõi vô biên. Với câu đề từ tác giả như muốn mách bảo: con người bâng khuâng, nhung nhớ trước trời rộng, sông dài và cũng là trời rộng bâng khuâng nhớ sông dài. Cái độc đáo của câu thơ này chính là sự giao thoa giữa hai nghĩa ấy.
     “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
    Con thuyền xuôi mái nước song song
    Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
    Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
        Bài thơ được mở đầu bằng tứ thơ cổ điển: dòng sông, con thuyền, không gian rộng lớn và tâm trạng của con người. Hai chữ “tràng giang” trong dòng thơ gợi cho người đọc về một dòng sông rộng lớn, cổ kính ở đất nước Trung Quốc.
        Sóng gợn là sóng nhỏ lăn tăn, lan tỏa ra xa và sóng buồn điệp điệp là con sóng của lòng người chứa đựng nỗi buồn âm thầm, tha thiết. Con sóng chính là điểm nhìn đầu tiên, hình ảnh gợi cảm hứng đầu tiên để nhà thơ sáng tác bài “Tràng giang”. Có bao nhiêu lớp sóng trên sông là có bấy nhiêu nỗi buồncủa thi sĩ.
        Cùng với sóng là thuyền, cặp hình ảnh thuyền – nước vốn là cặp hình ảnh vô cùng quen thuộc trong văn học trung đại một lần nữa được Huy Cận sử dụng để tạo nên không khí vắng lặng, yên ả, thanh bình giữa dòng Tràng giang rộng lớn. Con thuyền giống như một nét chấm phá tài hoa. Dường như con thuyền ấy đang tự buông mái chèo để trôi theo dòng nước. Tất cả đều là những vận động khẽ khàng, nhỏ nhẹ để tạo nên một cảm giác bình yên. Tuy nhiên khung cảnh ấy cũng tạo nên một nỗi buồn man mác bởi sự đối lập giữa con thuyền và dòng Tràng giang rộng lớn tạo ra cảm giác con thuyền như nhỏ bé hơn, cô đơn hơn.
        Ở câu thơ tiếp theo, cái nhìn của thi nhân vẫn hướng về lòng sông nhưng cảnh vật lúc này mang một tính chất khác, hình ảnh “thuyền về nước lại” gợi ra sự vận động ngược hướng giữa thuyền và nước. Chính sự vận động ngược hướng đó tạo nên cảm giác về sự chia lìa, mất mát. Bình thường nước chảy thì thuyền trôi nhưng ở đây thuyền và nước lại chuyển động theo hai hướng khác nhau khiến cho cảnh vật không chỉ còn tính chất buồn vắng mà còn thấm đẫm ý vị chia li.
        Ở câu cuối tiếp tục Huy Cận đưa vào 1 hình ảnh còn tội nghiệp, nhỏ bé hơn là hình ảnh “củi”. Khác với hình ảnh “dòng sông, con thuyền, sóng” vốn là những hình ảnh cổ điển thì hình ảnh “củi” lại là hình ảnh mang đậm chất hiện thực, mang đậm màu sắc và hơi thở cuộc sống. Thơ ca trung đại Việt Nam vốn tôn thờ sự trang nhã, đài các nên không thiếu các hình ảnh sang trọng kiểu: long, li ,quy, phượng, tùng, cúc, trúc, mai… Trong quá trình Việt hóa văn học dân tộc các nhà thơ thời trung đại như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương đã cố gắng đưa vào trong thơ những chất liệu giản dị, mộc mạc của cuộc sống như: Bè rau muống, cây chuối, con ốc nhồi, quả mít… Đến các nhà thơ mới, họ tiếp tục có những đóng góp tích cực cho quá trình Việt hóa văn học dân tộc mà hình ảnh “củi” của Huy Cận là một minh chứng rõ nét không còn 1 chút nào ước lệ tượng trưng hay đài các sang trọng. Hình ảnh “củi” mang vào trong thơ tất cả cái xù xì, gân guốccủa cuộc sống. Ấn tượng hơn là cách sử dụng nghệ thuật đảo ngữ của Huy Cận trong cụm từ “củi một cảnh khô” Nhờ phép đảo ngữ này mà tính chất ít ỏi, trơ trọi, đơn độc của cành củi cùng sự tàn tạ, héo úa “khô” được thể hiện rất rõ. Đó không còn là 1 cái cây tràn trề sức sống mà chỉ là 1 mảnh rơi gãy tàn tạ đang bập bềnh trôi trên dòng nước. Chỉ nhìn hình ảnh ấy thôi đã đủ để tạo nên sự xót xa. Tất nhiên đó không đơn thuần chỉ là một hình ảnh tả cảnh. Huy Cận là 1 nhà thơ rất hay triết lý, đứng trước cảnh mênh mông của vũ trụ ông thường khắc khoải về cái cô đơn của kiếp người.
      Trước hết thi nhân đã cố gắng mở rộng không gian về chiều rộng từ chỗ tập trung vào dòng sông để ghi lại hình ảnh của sóng, của thuyền, của củi, con mắt thi nhân đã di chuyển sang hai bên bờ sông để tìm thêm đất, thêm người. Nhờ thế bức tranh đã có thêm “cồn”, thêm “gió” và thêm âm thanh từ một “làng xa” vọng lại. Tuy nhiên, tất cả các hình ảnh âm thanh này đều không thể khiến thi nhân vượt thoát khỏi nỗi buồn.
       Bản thân từ “cồn” đã gợi lên thế chênh vênh, trơ trọi . Nó là một đám đất hoặc cát nổi lên trên mặt sông được bao xung quanh bởi nước. Hình ảnh “cồn” đã rất nhỏ bé, tội nghiệp lại càng trở nên nhỏ bé, cô quạnh hơn khi được tác giả ghép với tính từ “nhỏ” và từ láy “lơ thơ”. Những từ gợi hình này càng khiến cho hình ảnh của cồn như co lại, đơn độc, ít ỏi, trơ trọi.
      Hô ứng với cái nhỏ bé của cồn là cái đìu hiu của gió. Huy cận đã học được từ láy “đìu hiu” từ bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm:
    “Non kì quạnh quẽ trăng treo
    Bến phì gió thổi đìu hiu mấy gò”
    Chỉ có điều từ “đìu hiu” của Đoàn Thị Điểm gợi ra 1 không khí tang tóc, thê lương, đậm mùi tử khí còn khi dùng từ này Huy Cận lại sử dụng với nét nghĩa vắng vẻ, lạnh lẽo, có thêm gió nhưng bức tranh không sinh động hơnmà ngược lại càng ảm đạm, hoang vắng hơn.
     Không chỉ đưa thêm hình ảnh, thi nhân còn đưa thêm cả âm thanh vào bức tranh:
    “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”
    Từ “đâu” đứng đầu câu thơ cho phép hiểu câu thơ theo 2 nét nghĩa: vừa có thể hiểu “đâu” giống như 1 phủ định từ, nghĩa là không hề có 1 âm thanh nào từ làng xa vọng lại, vừa có thể hiểu là sự khẳng định đâu đó có tiếng làng xa vãn chợ chiều vọng lại. Đặt trong hệ thống các hình ảnh cổ điển, thi liệu cổ điển, bút pháp cổ điển của bài thơ thì cách hiểu thứ 2 có phần hợp lý hơn vì nếu hiểu như vậy sẽ thấy tài nghệ của Huy Cận trong việc sử dụng nghệ thuật “lấy động tả tĩnh”. Âm thanh nhỏ bé, thưa thớt gắn với 1 buổi chợ tàn không khiến cho bức tranh trở nên sôi động hơn mà càng tô đậm cái buồn vắng, quạnh quẽ.
      Mở rộng không gian về chiều rộng không thể giúp cho thi nhân vượt thoát nỗi buồn nên sau đó thi nhân tiếp tục mở rộng không gian về chiều cao và một hình ảnh kì vĩ, tráng lệ:
    “Nắng xuống trời lên sâu chót vót”
    Nghệ thuật đối cổ điển đã giúp Huy Cận tạo nên một tiểu đối tài hoa: “nắng xuống – trời lên”.Ở đây sự chuyển động ngược hướng không khiến không gian tù túng mà lại trở nên thoáng đãng, cao rộng hơn. Đó là vì ánh nắng thường giúp cho bầu trời trở nên cao hơn, trong trẻo hơn. Tiểu đối này tạo ra cảm giác ánh nắng rơi xuống đến đâu thì bầu trời lại càng được mở rộng, càng cao lên đến đó.
    Tiểu đối đã rất xuất sắc nhưng tài hoa hơn là cách kết hợp từ của thi nhân trong cụm từ “sâu chót vót”. Nếu là cao chót vót thì độ cao ấy vẫn có đỉnh, vẫn có giới hạn còn khi là “sâu chót vót” thì độ cao của bầu trời đã được đẩy lên khôn cùng, không có giới hạn. Hơn nữa gắn với dòng Tràng giang cụm từ “sâu chót vót” còn cho phép tạo ra 1 trường liên tưởng đầy chất thơ đó là thi nhân không phải ngước mắt lên để nhìn bầu trời mà là đang ngắm nhìn bầu trời qua dòng sông. Lòng sông phẳng, trong vắt đã biến thành 1 tấm gương khổng lồ để phản chiếu toàn bộ vẻ đẹp của bầu trời. Có thể thấy ở câu thơ này Huy Cận đã vẽ ra một bức tranh kì vĩ nhưng bức tranh ấy vẫn thiếu sự hiện diện của con người nên nó tiếp tục gieo vào lòng người đọc cảm giác da diết, mênh mang.
      Nới rộng không gian về chiều cao cũng không đạt được mục đích, thi nhân tiếp tục tạo thêm chiều xa cho bức tranh.
    “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
    Câu thơ này cũng giống câu thơ trên đều ngắt nhịp 2/2/3. Đây là 1 nhịp thơ đều đặn tạo nên cảm giác khoan thai, chậm rãi. Nó khiến cho không gian cùng 1 lúc như được mở rộng ra về tất cả các phía. Ở câu thơ này cả sông, cả trời, cả bến đều rất rộng, rất dài nhưng đều vắng vẻ, quạnh quẽ. Không có bất cứ 1 âm thanh, một hình bóng của con người trong không gian rộng lớn ấy, bởi vậy, càng mở rộng, nỗi buồn càng lan tỏa mênh mang hơn.
    Mở rộng không gian cả về 3 phía rộng, cao, xa nhưng thi nhân vẫn không thể tìm được 1 điểm tựa để vượt thoát nỗi buồn, bởi vậy đến đây nỗi buồn càng đậm đặc và tăng cấp hơn
        Chỉ một vài chi tiết giàu sức gợi, khổ thơ vừa khắc họa được khung cảnh vắng lặng của đất trời quê hương vừa diễn tả được nỗi cô đơn buồn sầu của nhân vật trữ tình.
     “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
    Mênh mông không một chuyến đò ngang
    Không cầu gợi chút niềm thân mật
    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”
    Câu thơ mở đầu có sắc thái như một câu hỏi tu từ. Hình ảnh ước lệ “bèo dạt” vốn xuất hiện khá nhiều trong thơ ca cổ điển đã trở thành biểu tượng cho số phận con người tan tác, chia lìa, bơ vơ giữa dòng đời vô định.. Hình ảnh cánh bèo được Nguyễn Du viết trong tác phẩm “Truyện Kiều”:
    Thoắt buôn về, thoắt bán đi
    Hoa trôi bèo dạt, biết là về đâu
    Thân phận Kiều được ví như những bông hoa, cánh bèo trôi dạt trong gầm trời của xã hội phong kiến. Câu thơ của Huy Cận không chỉ nói tới một cô gái với số phận bất hạnh mà gợi ra nhiều con người với nhiều nỗi đau chia lìa ngay trên chính quê hương đất nước mình.
    Hình ảnh dòng sông mênh mông đến rợn ngợp được nhấn mạnh bằng thủ pháp điệp từ “không” và dùng phủ định để khẳng định. Trên dòng sông không có một chuyến đò, không có một cây cầu. Đò và cầu là những phương tiện giao thông nối kết đôi bờ nhưng ở đây, con người không thể gặp gỡ vì những phương tiện giao thông ấy không tồn tại. Không gian càng trở nên lặng lẽ, tịnh không một bóngngười.
    Hai bên bờ sông trải dài chỉ có những bờ cỏ xanh nối tiếp những bãi vàng úa tàn. Cảnh sắc thiên nhiên tự nó đã nhuốm buồn bởi không toát lên sự trù phú, tươi tốt của những miệt vườn cây trái, thiếu cảnh cánh đồng thẳng cánh cò bay, vốn thường gắn kết với hình ảnh dòng sông.
    Cách ngắt nhịp trong bài thơ thất ngôn trường thiên có sự cách tân từ chỗ hiệp vần giãn cách đến cách ngắt nhịp: câu 2 và 3: ngắt nhịp 4/3; câu 1 và 4 ngắt nhịp 2/5.
     “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều xa.”
    Mây ở đây đùn lại thành quả núi, không trôi lững lờ như trong bài “Chiều tối: “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” Từ láy “lớp lớp” được đảo lên vị trí đầu dòng thơ gợi hình ảnh những đám mây xếp từng chồng, từng lớp dồn tụ lại thành từng quả núi mây. Trong ráng đỏ của chiều hoàng hôn những đám mây như được dát lên một lớp bạc. Nhà thơ mượn cách diễn đạt của thơ Đường nhưng vẫn giữ được nét riêng của Thơ mới. Chữ “đùn” được lấy từ câu thơ của Đỗ Phủ: “Mặt đất mây đùn ca ải xa”. Thiên nhiên trong cảnh chiều tàn có chút man mác buồn nhưng hùng vĩ và thơ mộng.
    Trước không gian bao la, hùng vĩ của vũ trụ xuất hiện một cánh chim nhỏ bé. Thơ xưa thường dùng hình ảnh cánh chim trong chiều muộn để gợi ý niệm về thời gian, đồng thời gửi gắm nổi buồn xa vắng:Chim bay về núi tối rồi (Ca dao), Chim hôm thoi thóp về rừng (Nguyễn Du), Ngàn mai gió cuốn chin bay mỏi ( Bà huyện Thanh Quan) hoặc trong bài Chiều tối của Hồ Chí Minh: “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”.
    Hình ảnh đôi cánh chim trong “Chiều tối” của Hồ Chí Minh hướng về một không gian nhất định là khu rừng gợi niềm khao khát được sum họp. Cánh chim trong bài thơ của Huy Cận không thấy cả điểm dừng, vì thế nó thực sự mông lung, vô định. Nhà thơ sử dụng nghệ thuật mượn điểm vẽ diện nghệ thuật đối lập “lớp lớp mây cao/ Chim nghiêng cánh nhỏ; lấy cái hữu hạn làm nổi bật cái vô hạn. Dấu “ : ” xác lập tương quan giữa bầu trời và mặt đất. Đôi cánh chim cũng trĩu nặng vì chở bóng chiều âm thầm sa xuống mặt đất.
    Bức tranh cảnh chiều tàn gợi sự vắng lặng, mênh mang, cô lẻ nhưng không mất đi vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng. Lối miêu tả mang nét chấm phá của thơ cổ.
     “Lòng quê dn dn với con nước
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
    Từ láy “dợn dn gợi sự đa nghĩa, là con sóng bập bềnh, lên xuống không ngớt. Chiều về, thủy triều dâng cao tạo thành những con sóng lớn. Những con sóng dợn dợn cũng chính là ẩn dụ thể hiện những cảm xúc cồn cào nhung nhớ không dứt của chính nhà thơ hướng về quê nhà. Khoảnh khắc chiều tà gợi nỗi buồn xa vắng cho người xa quê. Bữa cơm gia đình đạm bạc nhưng ấm cúng là sợi dây bền chặt, thiêng liêng gắn kết mỗi con người. Hai câu thơ cuối bài được tác giả lấy tứ trong Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu:
    “Quê hương khuất bóng hoàng hôn
    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
    Nhà thơ Thôi Hiệu khi nhìn thấy sóng trên sông Trường Giang bỗng quặn lòng nhớ về mái nhà ở quê hương. Còn Huy Cận, chẳng nhìn thấy khói sóng trên sông mà nỗi nhớ, niềm thường cứ dâng lên ào ạt, ám ảnh khôn nguôi của lòng người.
    Xuyên suốt bài thơ là nỗi buồn triền miên, da diết với nhiều cung bậc khác nhau. Nỗi buồn trong bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà thơ mới chính là nỗi buồn của cả thế hệ Huy cận, cả dân tộc Việt nam trong những năm tháng ngột ngạt, dưới thời Pháp thuộc. Nỗi buồn ấy cũng xuất phát từ quan niệm mĩ học của các nhà thơ lãng mạn đương thời. Theo họ, cái đẹp thường đi đôi với cái buồn. Tuy nhiên, nỗi buồn của Huy cận trong bài thơ này là nỗi buồn trong sáng vì nó thể hiện kín đáo tình yêu da diết, cháy bỏng của tác giả đối với quê hương, đất nước
    Bâì thơ sử dụng những hình ảnh mang tính chất ước lệ, các thủ pháp nghệ thuật: đối lập, mượn điểm vẽ diện. Mô tả cảnh sắc thiên nhiên chỉ bằng một vài nét chấm phá nhưng thâu tóm được linh hồn tạo vật. Có sự cách tân về thi pháp, lối hiệp vẫn giãn cách.Nói về những sự vật, hiện tượng rất tầm thường trong cuộc sống như cành củi trôi nổi trên sông. Thế giới tâm trạngnhân vật trữ tình mang nỗi sầu nhân thế, dùng cái khách quan làm nổi bật tâm trạng.Bài thơ bộc lộ nỗi sầu của một “cái tôi” cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha.
     
     

    Trả lời
  2. Huy Cận là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào Thơ Mới, thơ ông có một bản sắc và giọng điệu riêng, có chiều sâu xã hội cũng như triết lí. Thơ Huy Cận mang một nỗi buồn sâu lắng, miên man, ảo não và thảm đạm; nỗi buồn của “đêm mưa”, của “người lữ thứ”, nỗi buồn của “quán chật đèo cao”, của “trời rộng sông dài”. Tràng Giang là một bài thơ nổi tiếng của Huy Cận, sáng tác vào năm 1939, đăng lần đầu trên báo Ngày nay, sau đó in vào tập thơ Lửa thiêng. Bài thơ mang phong vị Đường thi khá rõ. Đây là bài thơ được cảnh sông nước mênh mông của sông Hồng gợi tứ. Huy Cận đã có lần tâm sự: Tôi có thú vui thường chiều chủ nhật hàng tuần đi lên vùng Chèm để ngoạn cảnh sông Hồng và Hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp, gợi cho tôi nhiều cảm xúc. Tuy nhiên bài thơ không chỉ so sông Hồng gợi cảm mà còn mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương”.
    Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” khái quát chủ đề của cả bài thơ là một nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa đất trời mênh mông, rộng lớn và bao la. Bài thơ toát lên vẻ đẹp vừa hiện đại, vừa cổ điển, cũng là một nét đặc trưng trong thơ của Huy Cận.
    Mở đầu bài thơ là cảnh sông nước, khổ thơ đầu làm người đọc liên tưởng đến con sông thăm thẳm chứa đựng biết bao nỗi buồn miên man
    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
    Con thuyền xuôi mái nước song song
    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
    Củi một cành khô lạc mấy dòng.
    Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Với một loạt những từ ngữ gợi nỗi buồn thê lương “buồn”, “sầu trăm ngả”, “lạc mấy dòng” kết hợp với từ láy “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái của thơ Đường thi dường như đã lột tả được hết thần thái và nỗi buồn vô biên, vô tận của nhà thơ. Trên dòng sông gợn sóng ấy là hình ảnh một “con thuyền xuôi mái”, lững lờ trôi thể hiện trong tĩnh có động nhưng sao người đọc vẫn cảm thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng “tràng giang” dài và rộng mênh mang, vô tận biết bao. Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận và lòng người cũng đầy ắp những nỗi buồn khó tả. Hình ảnh “thuyền”, “nước” vốn đi liền với nhau, thế mà Huy Cận lại để chúng xa cách nhau “thuyền về nước lại” sao nghe mà xót xa thế. Chính vì thế mà gợi lên trong lòng người một nỗi “sầu trăm ngả”. Lượng từ “trăm” kết hợp cùng chỉ số “mấy” đã thổi vào câu thơ một nỗi buồn dài vô tận, không có điểm dừng.
    Nỗi buồn ấy được trút hết vào câu thơ cuối “củi một cành khô lạc mấy dòng”, Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện sự cô đơn, lạc lõng trước cảnh sắc bao la, rộng lớn. “Một” gợi lên sự cô đơn, đơn chiếc, “cành khô: gợi lên sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, còn lại thân xác trơ trụi, khô héo, “lạc”mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, không có định hướng trên “mấy dòng” là thể hiện sự chảy trôi một cách hư vô. Hình ảnh cành củi khô cứ trôi mãi trong vô định khiến người đọc cảm thấy trống vắng, cô đơn đến lạ, thể hiện một kiếp người long đong, đang trôi dạt giữa cuộc sống bộn bề chật chội.
    Đến khổ thơ thứ hai dường như muốn đẩy nỗi hiu quạnh tăng lên gấp bội.
    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
    Hai câu thơ đầu phảng phất một khung cảnh đìu hiu, buồn man mác của một làng quê nghèo, thiếu sức sống. Hình ảnh “cồn nhỏ” với tiếng gió thổi “đìu hiu” như phủ lên mình một nỗi buồn mặc định đến da diết. Đến nỗi nhà thơ phải đặt một câu hỏi sao ngay cả tiếng ồn ào của phiên chợ chiều cũng không nghe thấy hay phải chăng phiên chợ đó cũng buồn hiu quạnh như ở nơi đây. Từ “đâu” cất lên thật thê lương, không điểm tựa để bấu víu. “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” , khung cảnh hiện lên qua câu thơ của Huy Cận sao mà hoang sơ, tiêu điều thế, nơi bến nước không có một bóng người qua lại, không có một tiếng động của cỏ cây hay tiếng thở của con người xung quanh chỉ có đất trời dài rộng, cô đơn lẻ loi một mình. Hai câu thơ cuối tác giả đã mượn “trời”, “sông” để tả cái mênh mang vô định của đất trời, của lòng người. Nhà tơ không dùng trời “cao” mà lại dùng trời “sâu” để đo chiều sâu thực sự là nét tinh tế, độc đáo trong thơ Huy cận. Câu cuối đoạn như nói hết, lột tả hết nỗi buồn sâu thẳm không biết ngỏ cùng ai, nhà thơ đã phải nói thẳng sự “cô liêu”.
    Sang khổ thơ thứ ba, tác giả muốn tìm sự ấm áp của đất trời mênh mông nhưng dường như cảnh sắc thiên nhiên lại không như lòng người mong đợi
    Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
    Mênh mông không một chuyến đò ngang.
    Không cầu gợi chút niềm thân mật,
    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
    Đọc khổ thơ thứ 3, người đọc cảm nhận một sự chuyển biến, vận động của thiên nhiên, không còn buồn rầu, u mê như những khổ thơ đầu và khổ thơ thứ 2. Từ “dạt” đã diễn tả tinh tế sự chuyển biến của vạn vật thiên nhiên Tuy nhiên nó lại được gắn liền với hình ảnh “bèo” mà “bèo” thì vốn vô định, trôi nổi khắp nơi, không có nơi bấu víu cứ lặng lẽ dạt “về đâu”, chẳng biết dạt về đâu, cũng chẳng biết dạt được bao nhiêu lâu nữa. Mặt nước mênh mông không có một chuyến đò. Tác giả chỉ đợi chờ một chuyến đò để thấy được rằng sự sống đang tồn tại nhưng dường như điều này là không thể.
    Đến khổ thơ cuối cùng, những cảm xúc, bút pháp của tác giả được đẩy lên đỉnh điểm, nét vẽ chấm phá dùng rất đắc điệu
    “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
    Lòng quê dợn dợn vời con nước,
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
    Nét chấm phá trong hình ảnh “mây cao” và “núi bạc” giống như trong thơ Đường càng khắc sâu sự cô đơn, buồn phiền. Hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều sa” là sự hữu hình hóa cái vô hình của tác giả. Bóng chiều làm sao có thể nhìn thấy được nhưng qua ngòi bút và con mắt của tác giả người ta đã hình dung ra được trời chiều đang dần buông xuống. Mây ở đây chất chồng lên nhau, ánh lên trong nắng chiều, làm cho cả bầu trời trở nên đẹp đẽ và rực rỡ. Giữa khung cảnh ấy, một cánh chim nhỏ nhoi xuất hiện. Cánh chim bay giữa những lớp mây cao đẹp đẽ, hùng vĩ như càng làm nổi bật lên cái nhỏ bé của nó. Nó đơn côi giữa đất trời bao la, như tâm hồn nhà thơ bơ vơ giữa cuộc đời chông chênh vậy.
    Sang hai câu thơ cuối cùng chính là nỗi nhớ nhà nhớ, nhớ quê được tác giả bộc lộ một cách rõ ràng, tất cả những tình cảm ấy nhà thơ chẳng biết gửi vào đâu mà chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim mình. Hai từ “dờn dợn” gợi nỗi nhớ trào dâng của nhà thơ khi đứng trước cảnh hoang vắng của một chiều khi hoàng hôn buông xuống. Câu thơ muốn nói lên nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ khi đứng trước sông nước rợn ngợp. “Không khói hoàng hôn” nghĩa là không một yếu tố ngoại cảnh nào tác động trực tiếp nhưng cảnh vật vẫn gợi trong lòng nhà thơ một nỗi nhớ quê cha đất tổ. Câu thơ cuối như bộc lộ tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ muốn gửi gắm xuyên suốt bài thơ. Lúc nào trong lòng Huy Cận cũng mang một cái tình quê sâu đậm, một nỗi nhớ quê da diết khôn nguôi.
    Tràng giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cổ điển đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh. Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận. Dưới hình thức một bài thơ mang đậm phong cách thơ Đường thi, kết cấu mạch lạc và cái tài sáng tạo ngôn ngữ, hình ảnh của tác giả, bài thơ hiện lên như một bản hòa ca mà ở đó, các nốt nhạc đều hợp sức tấu lên khúc ca yêu thiên nhiên, đất nước. Nhà thơ Xuân Diệu đã viết :Tràng giang là một bài thơ ca non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc”.
    Bài thơ “tràng giang” là bài thơ đặc sắc trong cuộc đời thơ ca của Huy Cận. Bài thơ là sự kết hợp bút pháp hiện thực đan xen bút pháp cổ điển đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh, qua đó bộc lộ tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ “tràng giang” của Huy Cận đã để lại rất nhiều tình cảm, ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.

    Trả lời

Viết một bình luận

Câu hỏi mới