Soạn bài CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI NGƯỜI , bài 2 Gõ cửa trái tim(sách ngữ văn kết nối tri thức) Thời gian lm bài :thứ b

Soạn bài CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI NGƯỜI , bài 2 Gõ cửa trái tim(sách ngữ văn kết nối tri thức)

Thời gian lm bài :thứ bảy , sang chủ nhật.

1 bình luận về “Soạn bài CHUYỆN CỔ TÍCH VỀ LOÀI NGƯỜI , bài 2 Gõ cửa trái tim(sách ngữ văn kết nối tri thức) Thời gian lm bài :thứ b”

  1. Nội dung chính:
    Bài thơ kể lại một cách sinh động về sự ra đời của loài người. Mọi thứ từ mặt trời, mẹ, bố, mặt bể, con đường, trường lớp, đều sinh ra để phục vụ cho những nhu cầu của trẻ con. Qua đó bài thơ đã bộc lộ tình yêu mến đối với con người nhất là trẻ em. Trẻ em cần được yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ. Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho tuổi thơ.
    Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc:
    Câu 1 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Những căn cứ để xác định văn bản Chuyện cổ tích về loài người là một bài thơ là:
    + Mặc dù có yếu tố tự sự nhưng Chuyện cổ tích về loài người vẫn là một bài thơ vì nhà thơ chỉ mượn phương thức tự sự để bộc lộ cảm xúc, tình cảm yêu thương dành cho trẻ thơ.
    + Về hình thức: mỗi dòng thơ có 5 tiếng, các dòng được sắp xếp theo khổ và không giới hạn số lượng dòng trong một bài.
    + Bài thơ sử dụng vần chân ở hầu hết các dòng thơ, ví dụ:
    Từ cánh cò rất trắng
    Từ vị gừng rất đắng
    Từ vết lấm chưa khô
    Từ đầu nguồn cơn mưa
    Từ bãi sông cát vắng
    + Mỗi dòng thơ đều được ngắt nhịp 3/2 hoặc 2/3, tạo âm điệu nhịp nhàng. Ví dụ:
    Trời sinh ra/ trước nhất
    Chỉ toàn là/ trẻ con
    ..
    Màu xanh/ bắt đầu cỏ
    Màu xanh/ bắt đầu cây
    Câu 2 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Trong tưởng tượng của nhà thơ, thế giới đã biến đổi sau khi trẻ con ra đời là:
    + mặt trời nhô cao.
    + màu xanh cỏ cây bắt đầu có
    + cây cao bằng gang tay
    + có lá cỏ và hoa
    + hoa có màu đỏ
    + chim bấy giờ sinh ra
    + có tiếng hót của chim trong và cao
    + có gió truyền âm thanh
    + có sông, có biển
    + biển sinh ý nghĩ, cá tôm, những cánh buồm
    + đám mây cho bóng rợp
    + có đường cho trẻ tập đi
    Theo cảm nhận của nhà thơ, mỗi sự thay đổi trên thế giới đều bắt nguồn từ sự sinh ra của trẻ con. Các sự vật, hiện tượng xuất hiện đều để nâng đỡ, nuôi dưỡng, góp phần giúp trẻ con trưởng thành cả về thể chất và tâm hồn.
    Câu 3 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Theo nhà thơ, món quà tình cảm mà chỉ có mẹ mới đem đến được cho trẻ thơ chính là tình yêu của mẹ. Tình yêu ấy thể hiện một cách bình dị mà cảm động qua sự chăm sóc ân cần và lời hát ru của mẹ. Mỗi hình ảnh trong lời hát ru của mẹ đều chứa đựng ý nghĩa sâu xa, gửi gắm những ước mong của me dành cho trẻ thơ.
    + Cái bống cái bang vốn chỉ những em bé ngoan, chăm chỉ trong bài ca dao:
    Cái bống là cái bống bang
    Khéo sảy khéo sàng cho mẹ nấu cơm
    Mẹ bống đi chợ đường trơn
    Bống ra gánh đỡ chạy cơn mưa ròng
    Nhắc đến cái bống, nhà thơ ngầm ý nhắc nhở các em hãy là những người con hiếu thảo, biết yêu thương, giúp đỡ cha mẹ.
    + Cánh cò gợi nhớ đến bài ca dao:
    Con cò mà đi ăn đêm
    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
    Ông ơi ông vớt tôi nao
    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
    Có xáo thì xáo nước trong
    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
    Cánh cò trắng biểu tượng cho người nông dân vất vả, một nắng hai sương kiếm ăn mà vẫn quanh năm thiếu thốn. Tuy hoàn cảnh sống lam lũ, cực nhọc nhưng họ vẫn giữ tấm lòng trong sạch.
    + Vị gừng cay trong lời ru của mẹ gợi nhớ những câu ca dao:
    Tay nâng chén muối đĩa gừng
    Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau
    Muối ba năm muối đang còn mặn
    Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
    Đôi ta nghĩa nặng tình dày
    Có xa nhau cũng phải ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
    Người xưa đã mượn những đặc tính tự nhiên của gừng và muối để diễn tả tình nghĩa thủy chung, son sắt của con người. Gừng càng già càng cay, cũng giống như tình cảm yêu thương chân thành của con người sẽ càng trở nên mặn mà, đằm thắm qua thời gian. Bài ca dao nhắc nhở sự thủy chung trong tình vợ tình chồng.
    ð Những hình ảnh mẹ mang đến cho trẻ con qua lời ru chứa đựng những lời nhắn nhủ ân cần về cách sống đẹp: biết yêu thương, chia sẻ, nhân ái, thủy chung, Đó chính là dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.
    Câu 4 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Những câu chuyện cổ tích và điều bà muốn gửi gắm qua những câu chuyện đó:
    + Tấm Cám, Thạch Sanh: Ước mơ về lẽ công bằng, người ở hiền sẽ gặp lành, ở ác sẽ bị quả báo.
    + Cóc kiện trời: Đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh.
    + Nàng tiên ốc, ba cô tiên: Lạc quan, tin tưởng vào những điều tốt đẹp.
    Những câu chuyện cổ tích đó mang đến cho trẻ thơ những bài học về triết lí sống nhân hậu, ở hiền gặp lành; là suối nguồn trong trẻo nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn trẻ thơ.
    Câu 5 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Những nét riêng trong tình cảm mà bố dành cho trẻ:
    + Nếu mẹ yêu thương trẻ, dành cho trẻ sự chăm sóc ân cần và lời ru ngọt ngào thì tình yêu của bố hiện qua sự truyền dạy những tri thức về thiên nhiên và cuộc sống.
    + Mẹ nuôi dưỡng cho trẻ trái tim ấm áp, yêu thương; Bà mang đến cho trẻ những bài học về triết lí sống nhân hậu, nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn. Bố giúp trẻ trưởng thành về trí tuệ.
    Câu 6 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Mái trường hiện lên với những hình ảnh rất đỗi thân thương, bình dị như chữ viết, ghế, bàn, lớp học, bảng, phấn và thầy giáo.
    – Chính nơi này, người thầy cùng với những phương tiện dạy học đơn sơ đã mang đến cho trẻ thơ những bài học về đạo đức, tri thức, nuôi dưỡng những ước mơ đẹp, giúp trẻ trưởng thành hơn.
    Câu 7 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Bài thơ có nhan đề: Chuyện cổ tích về loài người gợi cho người đọc những liên tưởng về những câu chuyện ưởng tượng về sự xuất hiện của loài người trong vũ trụ dưới hình thức cổ tích suy nguyên, giải thích nguồn gốc của loài người mang màu sắc hoang đường, kì ảo.
    Câu 8 (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    – Bài thơ kể về nguồn gốc loài người với nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo (giống như những truyện thần thoại và cổ tích) nhưng nhà thơ Xuân Quỳnh lại kể theo cách riêng: không phải người lớn mà là trẻ con được sinh ra trước nhất. Trẻ con chính là trung tâm của vũ trụ, vạn vật được sinh ra là vì trẻ em; những người thân như ông bà, bố mẹ được sinh ra là để che chở, yêu thương, nuôi dạy trẻ em khôn lớn thành người.
    – Sự khác biệt ấy thể hiện thông điệp nhà thơ muốn nhắn gửi:
    + Tới trẻ em: Hãy yêu thương những người thân trong gia đình bởi họ đã dành cho các em nhữn tình cảm tốt đẹp nhất. Tình cảm cần được thể hiện qua những lời nói, hành động, việc làm cụ thể, giản dị hàng ngày.
    + Tới các bậc làm cha mẹ: Hãy yêu thương, chăm sóc và dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất bởi các em chính là tương lai của gia đình, đất nước. Các em cần được sống trong môi trường tốt đẹp, được yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ để khôn lớn, trưởng thành.
    * Viết kết nối với đọc
    Bài tập (trang 43 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống):
    Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) thể hiện cảm xúc của em về một đoạn thơ mà em yêu thích trong bài thơ Chuyện cổ tích về loài người.
    Gợi ý:
    – Lựa chọn đoạn thơ yêu thích, xác định nội dung chính, những yếu tố nghệ thuật nổi bật và cảm xúc của em khi đọc đoạn thơ đó.
    – Hướng dẫn viết:
    + Câu mở đầu cần giới thiệu được tên bài thơ, tên tác giả, nội dung đoạn thơ, cảm xúc chung của em về đoạn thơ.
    + Các câu tiếp theo thể hiện cảm xúc đối với các khía cạnh nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.
    Đoạn văn tham khảo:
    Lí giải về nguồn gốc của loài người cho trẻ em thật khó. Nhưng nữ sĩ Xuân Quỳnh đã có cách giải thích thật khéo léo, tinh tế và dễ hiểu với bài thơ Chuyện cổ tích về loài người. Và đây là một đoạn thơ đặc sắc:
    Nhưng còn cần cho trẻ
    Tình yêu và lời ru
    Thế nên mẹ sinh ra
    Để bế bồng, chăm sóc
    Mẹ mang về tiếng hát
    Từ cái bống cái bang
    Từ cái hoa rất thơm
    Từ cánh cò rất trắng
    Từ vị gừng rất đắng
    Từ vết lấm chưa khô
    Từ đầu nguồn cơn mưa
    Từ bãi sông cát vắng
    Mở đầu đoạn thơ là sự có mặt của người mẹ trong thế giới. Khổ thơ như chia làm hai vế, vế đầuNhưng còn cần cho trẻ. Tình yêu và lời ru là điều kiện cần, còn vế sau Thế nên mẹ sinh ra. Đề bế bồng, chăm sóc là kết quả thỏa mãn điều kiện đó. Lúc đầu trời sinh ra chỉ toàn là trẻ con, rồi mọi thứ dần dần ra đời để nuôi dưỡng bé. Và lí do mẹ có mặt trên đời cũng thật giản dị và ý nghĩa, vì có bé ở trên đời. Bé cần rất nhiều thứ để lớn khôn như mặt trời, cây cỏ, chim muông, sông suối, cá tôm… nhưng có lẽ hơn hết thảy bé cần tình yêu và lời ru. Từ nhưng đặt đầu câu nhằm nhấn mạnh sự quan trọng của hai yếu tố đó và lí giải sự xuất hiện của mẹ là điều tất yếu. Bởi bé là niềm vui, là nguồn hạnh phúc của mẹ. Bé cần có bàn tay dịu dàng vuốt ve, cần lời hát ru để lớn, cần sự dạy bảo để thành người. Mẹ xuất hiện là vì thế bé yêu ạ

    Trả lời

Viết một bình luận

Câu hỏi mới