viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử.Bác Võ Nguyên GIÁP và trận đánh điện biên phủ ko chép

viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử.Bác Võ Nguyên GIÁP và trận đánh điện biên phủ ko chép mạng nha

1 bình luận về “viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử.Bác Võ Nguyên GIÁP và trận đánh điện biên phủ ko chép”

    • Gửi báo giá
    • 1900.6568
    Trang chủGiáo dụcViết văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sửViết văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sửCao Thị Thanh Thảo25/02/2023Giáo dục0
    “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” hai câu thơ này có thấy việc am hiểu lịch sử là vô cùng quan trọng đối với mỗi con người Việt Nam. Bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn đọc những bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử.
    Mục lục bài viết
    Ẩn
    • 1. Dàn ý bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử: 
      • 1.1. Mở bài: 
      • 1.2.Thân bài: 
      • 1.3. Kết bài: 
    • 2. Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử ý nghĩa nhất: 
    • 3. Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến Hồ Chí Minh hay nhất: 
    1. Dàn ý bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử: 1.1. Mở bài: 
    – Giới thiệu vấn đề: Đó là sự việc nào? Liên quan đến nhân vật lịch sử nào?
    1.2.Thân bài: 
    – Giới thiệu sơ lược về nhân vật lịch sử đó.
    – Kể chi tiết sự việc liên đến nhân vật đó.
    + Sự việc diễn ra ở đâu?
    + Sự việc đó diễn ra lúc nào?
    + Sự việc đó diễn ra như thế nào?
    1.3. Kết bài: 
    – Liên hệ bản thân, cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm đối với nhân vật lịch sử ấy.
    2. Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử ý nghĩa nhất: 
    Mẫu bài văn 1:
    Vào những thời điểm bom lửa loạn lạc, nguy hiểm của đất nước, biết bao người con  đất Việt  đã anh dũng hy sinh để bảo vệ và chiến đấu  cho nền độc lập của Tổ quốc. Một trong số đó là Võ Thị Sáu – nữ anh hùng vang danh khắp vùng Đất Đỏ.
    Người con gái anh hùng ấy sinh năm 1933, nhưng đã mất năm 1952 khi chỉ tròn 19 tuổi. Quê hương khắc trên bia mộ chỉ được viết chung chung là ở vùng Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chị cùng  anh trai tham gia cách mạng từ thuở nhỏ. Võ Thị Sáu tham gia  đội xung kích tình nguyện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, giao hàng. Trong thời gian đó, Võ Thị Sáu đã tham gia nhiều trận đánh bảo vệ quê hương. Không chỉ vậy, Võ Thị Sáu còn nhiều lần chạm trán với bọn lưu manh, tay sai của Pháp. Võ Thị Sáu là một trong những người đã giúp bộ đội Công an thoát khỏi nguy hiểm do tích cực đánh địch.
    Có lần Võ Thị Sáu vác lựu đạn phục kích giết Cai Tòng, tên Việt gian lưu manh bán nước ở quê hắn. Lựu đạn nổ,  Tòng bị thương nặng nhưng không chết. Tuy nhiên, cuộc tấn công khiến binh lính đồn trú sợ hãi vì họ không dám truy đuổi Việt Minh quyết liệt như trước. Sau đó, trong khi làm nhiệm vụ, Võ Thị Sáu bị địch bắt. Sau khi bị bắt, chị bị  thẩm vấn và bị giam  tại Nhà tù Đất Đỏ, Phố Bà Rịa và  Chí Hòa. Thực dân Pháp  mở phiên tòa, lúc đó Võ Thị Sáu chưa tròn mười tám tuổi. Người bào chữa đã sử dụng điều này như một lý lẽ để giúp Võ Thị Sáu tránh án tử hình, nhưng tòa án vẫn kết án chị tử hình. Chúng đưa Võ Thị Sáu và một số  tù cách mạng ra Nhà tù Côn Đảo. Tại đây, thực dân Pháp đã bí mật đưa Võ Thị Sáu vào chỗ chết.
    Năm 1993, Nhà nước  truy tặng Võ Thị Sáu Huân chương Chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng Lực lượng Quốc phòng. Võ Thị Sáu  là  biểu tượng của lòng dũng cảm và sự kiên định.
    Mẫu bài văn 2:
    Mạc Đĩnh Chi sinh năm 1272 và mất năm 1346, ông lấy hiệu là Tiết Phu, quê ở làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Mạc Đĩnh Chi là một nhân vật lịch sử được mọi người vô cùng ngưỡng mộ và kính trọng.
    Mạc Đĩnh Chi vốn thông minh hơn người. Chiêu Vương Trần Ích Tắc vì ông có tài viết chữ đẹp nên đã thu nhận ông làm đệ tử và cho ông theo học. Tháng 3 năm 1304 tức năm Giáp Thìn, vua Trần Anh Tông  mở khoa thi Thái học sinh để tìm  nhân tài.
    Mạc Đĩnh Chi đã vượt qua bài kiểm tra này. Mạc Đĩnh Chi đỗ sao Giáng nguyên, được bổ làm Thượng thư Bộ Nội vụ. Tuy nhiên, Mạc Đĩnh Chi  có thân hình  thấp bé, vua Trần Anh Tông thường chê bà xấu xí. Mạc Đĩnh Chi tự miêu tả mình là phú đồ “Ngọc Liên Phù Tỉnh”, tức là “Hoa sen trong giếng Ngọc”. Vua Trần Anh Tông không ngớt ngắm nhìn, không ngớt lời khen ngợi.
    Mạc Đĩnh Chi  đi sứ ở Trung Quốc khi đảm nhiệm chức Thượng thư Bộ Nội vụ. Triều đình nhà Trung Quốc ngay lập tức coi thường Mạc Đĩnh Chi vì ngoại hình của ông. Một hôm, tể tướng  mời ông vào cung. Trong điện treo một bức tranh mỏng thêu  chim sẻ vàng trên cành trúc. Mạc Đĩnh Chi giả vờ tưởng chim  thật, vội nhảy lên bắt. Các triều thần Trung Quốc đều cười nhạo và cho rằng ông là nông dân. Mạc Đĩnh Chi lập tức kéo bức tranh xuống và xé nó đi. Mọi người thắc mắc và hỏi tại sao. Mạc Đĩnh Chi đáp: “Theo  tôi được biết, ông đồ xưa chỉ vẽ tranh tán mai chứ chưa bao giờ vẽ tranh trần tre. Vì tre là biểu tượng của chúa, chim sẻ là biểu tượng của người nhỏ nhen. Bây giờ bức tranh này được thêu bằng tre sọc, có nghĩa là  đặt người nhỏ nhen vào vị trí của người quân tử. Cho nên xin vua dẹp bỏ.” Đến đây thì ai cũng phải khâm phục tài  của Mạc Đĩnh Chi.
    Có thể khẳng định  Mạc Đĩnh Chi là một trạng nguyên tài năng hơn người, có công  với  nước.
    3. Bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến Hồ Chí Minh hay nhất: 
    Mẫu bài văn 1: 
    Những năm 1946, anh của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm đi từ Nghệ An ra Hà Nội thăm Hồ Chí Minh. Lúc ấy, Nguyễn Sinh Khiêm đi bộ từ Nam Đàn đến ga Cầu Giát, huyện Quỳnh Lưu, cách đó khoảng 70 km. Khi ông cầm vé, ai cũng tưởng Nguyễn Sinh Khiêm là Bác Hồ giả dạng đóng kịch. Các quan huyện Quỳnh Lưu lúc đó cũng nghĩ như vậy và cảm động.
    Tại ga Hàng Cỏ, vừa bước qua cổng ga, người dân ở đây đã nhanh chóng vây lấy Nguyễn Sinh Khiêm, xác định chính là Bác cải trang đi làm việc. Nguyễn Sinh Khiêm đính chính: “Thưa bà con, tôi là một người dân xứ Nghệ, ra thăm Thủ đô, không phải Cụ Hồ”. Nhưng đồng bào không tin, mọi người kéo đến càng ngày càng đông. Vào thời điểm đó, cảnh sát nhận thấy tình hình kỳ lạ và gọi cho giám đốc Sở Công an Trung ương. Nội dung báo cáo cho biết: “Có một cụ già nói giọng Nghệ Tĩnh, có râu, khuôn mặt rất giống Bác Hồ, nhân dân tin là Bác Hồ nên vây kín chưa đi được. Nhiều khả năng đây là người anh ruột của Bác’.
     Lúc này, đồng chí Lê Giản – Cục trưởng Cục Công an Trung ương nghe báo cáo lập tức cho người và ô tô đến ga Hàng Cỏ đón khách. Có lẽ vì muốn tránh đám đông, Nguyễn Sinh Khiêm đã đồng ý lên xe. Khi đồng chí Lê Giản mạnh dạn nói: “Thưa Bác, Bác vào thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh mà không báo cho chúng cháu biết, để chúng cháu đi xe cho dễ”, đồng chí Nguyễn Sinh Khiêm đáp ngay: “Ông làm chức trách Nhà nước mà ăn nói buồn cười. Lẽ đời thì em thăm anh, chứ anh nào thấy em làm to lại ra thăm. Tôi ra đây là thăm Thủ đô nước Việt Nam mới xem thế nào, chứ không phải thăm em làm Chủ tịch nước.”.
    Khi biết anh trai Nguyễn Sinh Khiêm đã ra Hà Nội, Bác lặng người và xúc động. Bác Hồ hôm nay do hoàn cảnh lúc đó không thể gặp anh nên đã nhờ người ra đón anh. Đêm, trời mưa, Bác mặc áo, đội ô, cùng hai đồng chí đến phòng làm việc của đồng chí Lê Giản ở phố Trần Hưng Đạo, cửa ở phố Dã Tượng. Cụ Hồ cởi áo xuống gặp anh mình. Vừa nhìn thấy anh, Hồ chủ tịch chạy lại ôm chầm lấy anh và gọi: “Anh ơi!”. Nguyễn Sinh Khiêm cũng ôm lấy Bác và nghẹn ngào nói: “Râu chú dài thế à?”. Rồi hai anh em ôm nhau khóc. Thư ký cẩn thận đóng cửa lại rồi lặng lẽ rời đi…
    Mẫu bài văn 2: 
    Bác Hồ – vị lãnh tụ đáng kính của nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân thế giới nói chung. Cuộc đời Bác là  tấm gương sáng  cho mọi người  Việt Nam noi theo. Và những câu chuyện về Bác luôn dạy cho chúng ta những bài học quý giá.
    Nghe nói trong những năm Bác Hồ sống ở vùng núi Việt Bắc, luôn có hai người lính đồng hành trong những chuyến công tác cùng Người. Sợ Chủ tịch Hồ Chí Minh mệt, hai người lính bày tỏ  muốn xách hộ ba lô cho Người, nhưng Người không đồng ý. Hồ Chí Minh nói:
     – Những ai đi rừng, leo núi, vác nặng thì thế nào không chóng mệt. Cứ phân chia đồ cho cả 3 người để cùng đeo cho đỡ nặng.
     Hai người lính đồng hành phải làm theo lời Bác,  chia đồ dùng thành 3 túi. Bác hỏi lại:
     – Hai chú chia đều hết chưa?
     Hai đồng chí trả lời:
     – Dạ thưa Bác, chúng cháu chia đều rồi ạ!
     Sau đó ba người cùng nhau rời đi. Sau khi dừng lại, Người đã đi đến cạnh hai người lính đang ngồi nghỉ và lấy ba lô của họ cầm lên. Người hỏi lại:
     – Sao ba lô của chú nặng mà Bác lại nhẹ?

    Trả lời

Viết một bình luận

Câu hỏi mới