Top 5 bài phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo hay chọn lọc – Tài liệu text

Top 5 bài phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo hay chọn lọc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (114.99 KB, 9 trang )

(1)

1. Dàn ý phân tích đoạn 1 Bình Ngơ đại cáo
a) Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm Bình Ngơ đại cáo

+ Nguyễn Trãi là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba, nhà văn nhà thơ với sự nghiệp sáng tác
đồ sộ.

+ Bình Ngơ đại cáo là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn hùng hồn của dân tộc ta.
– Dẫn dắt và nêu vấn đề: nội dung đoạn 1 bài Bình Ngơ đại cáo.

b) Thân bài: Phân tích nội dung đoạn 1 Bình Ngơ đại cáo
* Luận điểm 1: Tư tưởng nhân nghĩa.

– “Nhân nghĩa” là phạm trù tư tưởng của Nho giáo chỉ mối quan hệ giữa người với người dựa
trên cơ sở tình thương và đạo lí.

+ Nhân: người, tình người (theo Khổng Tử)

+ Nghĩa: việc làm chính đáng vì lẽ phải (theo Mạnh Tử)
– “Nhân nghĩa” trong quan niệm của Nguyễn Trãi:

+ Kế thừa tư tưởng Nho giáo: “yên dân” – làm cho cuộc sống nhân dân yên ổn, hạnh phúc
+ Cụ thể hóa với nội dung mới đó là “trừ bạo” – vì nhân dân diệt trừ bạo tàn, giặc xâm lược.
-> Tác giả đã bóc trần luận điệu xảo trá của giặc Minh đồng thời phân biệt rõ ràng ta chính

nghĩa, địch phi nghĩa.

nghĩa, địch phi nghĩa .

=> Tư tưởng của Nguyễn Trãi là sự kết hợp tinh túy giữa nhân nghĩa và thực tiễn dân tộc, tạo
cơ sở vững chắc cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn – là cuộc khởi nghĩa nhân nghĩa, vì cuộc sống
của nhân dân mà diệt trừ bạo tàn.

* Luận điểm 2: Lời tuyên ngôn độc lập.

– Nguyễn Trãi đã xác định tư cách độc lập của nước Đại Việt bằng một loạt các dẫn chứng
thuyết phục:

+ Nền văn hiến lâu đời

+ Cương vực lãnh thổ riêng biệt

+ Phong tục Bắc Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc

+ Lịch sử lâu đời trải qua các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần, hào kiệt đời nào cũng có.

– Các từ ngữ “từ trước, đã lâu, vốn xưng, đã chia” đã khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của Đại
Việt.

-> Bằng cách liệt kê tác giả đưa ra các chứng cứ hùng hồn, thuyết phục khẳng định dân tộc
Đại Việt là quốc gia độc lập, đó là chân lí không thể chối cãi.

=> Ở đây, Nguyễn Trãi đã đưa ra thêm ba luận điểm nữa là văn hiến, phong tục, lịch sử để
chứng minh quyền độc lập, tự do của đất nước so với bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên là
“Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt.

* Luận điểm 3: Lời răn đe quân xâm lược.
“Lưu Cung tham công nên thất bại,

(2)

( 2 )

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đơ,
Sơng Bạch Đằng giết tươi Ơ Mã.
Việc xưa xem xét,

Chứng cớ còn ghi.”

Nguyễn Trãi đã sử dụng phép liệt kê, dẫn ra những kết cục của kẻ chống lại chân lí:
+ Lưu Cung – vua Nam Hán thất bại với chủ ý thu phục Đại Việt.

+ Triệu Tiết – tướng nhà Tống thua nặng khi cầm quân đơ hộ nước ta.

+ Toa Đơ, Ơ Mã,… là các tướng nhà Nguyên cũng phải bỏ mạng khi cầm quân xâm lược.
=> Lời cảnh cáo, răn đe đanh thép những kẻ bất nhân bất nghĩa dám xâm phạm lãnh thổ, chủ
quyền dân tộc ta đều phải trá giá đắt, đồng thời cũng thể hiện niềm tự hào bởi những chiến
công của nhân dân Đại Việt.

* Đặc sắc nghệ thuật
– Ngôn ngữ đanh thép

– Giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ

– Sử dụng các biện pháp so sánh, liệt kê,…
– Sử dụng những câu văn song hành,…
c) Kết bài

– Khái quát lại nội dung đoạn 1 bài Bình Ngơ đại cáo.
– Cảm nhận của em về đoạn thơ.

2. Phân tích đoạn 1 Bình Ngơ đại cáo – mẫu 1

Nhắc đến những nhà văn chính luận lỗi lạc của văn học trung đại chúng ta khơng thể nào
khơng nhắc đến Nguyễn Trãi. Ơng khơng chỉ là một nhà thơ trữ tình sâu sắc mà cịn là một
nhà văn chính luận kiệt xuất với các tác phẩm: “Quân trung từ mệnh tập”, các chiếu biểu viết
dưới thời nhà Lê và tiêu biểu nhất là tác phẩm Bình Ngơ đại cáo. Các áng văn chính luận này
đã thể hiện được lòng yêu nước, thương dân của tác giả.

Ngay câu đầu bài cáo đã bộc lộ tư tưởng nhân nghĩa ấy:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

“Nhân nghĩa” là tấm lịng thương u người, là những hành động vì lợi ích của nhân dân,
cộng đồng. Bên cạnh đó, “nhân nghĩa” cũng là sự tôn trọng lẽ phải, bênh vực lẽ phải. Chịu sự
ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” là “yên dân”, “trừ
bạo”, cuộc sống và sự no ấm của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Giữa con người phải
có tình yêu thương lẫn nhau, cùng chiến đấu để bảo vệ đất nước, thoát khỏi đời sống khổ cực,
lầm than. Để được như vậy thì phải diệt trừ những kẻ bạo tàn, những thế lực xâm lược hung
hãn, đó chính là giặc Minh đang xâm chiếm đất nước ta lúc bấy giờ. Tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi chính là lịng yêu nước, thương dân và tinh thần chống giặc ngoại xâm quyết
liệt. Đây không chỉ là mối quan hệ nằm trong phạm vi giữa con người với con người mà mở
rộng ra là mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc.

Để khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng xác đáng và vô

cùng thuyết phục:

(3)

cùng thuyết phục:( 3 )

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Nền văn hiến đã có từ lâu đời và được hình thành từ khi đất nước ta tồn tại theo hàng nghìn
năm lịch sử đã tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc. Cùng với đó là sự phân chia về lãnh
thổ, núi sông và các phong tập tập quán đặc trưng của hai miền Nam, Bắc đã thể hiện đất
nước ta là một đất nước có chủ quyền, có các anh hùng hào kiệt ln cống hiến, chiến đấu hết
mình để bảo vệ non sơng. Khơng chỉ vậy, Nguyễn Trãi cịn đặt các triều đại của nước ta
ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc như Hán, Đường, Tống, Nguyên. Nếu các triều
đại phương Bắc phát triển hưng thịnh thì các triều đại Việt Nam cũng phát triển hùng mạnh
khơng kém. Điều đó đã thể hiện lịng tự tơn, tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả.

Ông đã nhắc lại nhiều chiến thắng lừng lẫy của nước Đại Việt như một lời khẳng định sự thất
bại thảm hại của kẻ thù:

“Lưu Cung tham cơng nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi”.

Những tướng của nhà Tống, nhà Nguyên đều bị các tướng giỏi của ta đánh cho thất bại.
Chúng vì “tham cơng”, “thích lớn” nên phải chịu hậu quả nặng nề. Các sự kiện ấy còn được

nhân dân ta lưu lại trong sử sách để muôn đời ghi nhớ. Các phép đối, so sánh ngang hàng các
triều đại phong kiến của nước ta với các triều đại phương Bắc cùng phép liệt kê và giọng điệu
hào hùng, trang nghiêm ở đoạn thứ nhất của bài cáo đã thể hiện nổi bật tư tưởng nhân nghĩa
của tác giả.

nhân dân ta lưu lại trong sử sách để muôn đời ghi nhớ. Các phép đối, so sánh ngang hàng cáctriều đại phong kiến của nước ta với những triều đại phương Bắc cùng phép liệt kê và giọng điệuhào hùng, trang nghiêm ở đoạn thứ nhất của bài cáo đã bộc lộ điển hình nổi bật tư tưởng nhân nghĩacủa tác giả .

Ông đã vạch trần, tố cáo những tội ác mà quân Minh xâm lược thực hiện với nhân dân ta:
“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước lịng dân ốn hận.
Qn cuồng Minh thừa cơ gây họa,

Bọn gian tà bán nước cầu vinh”.

Quân Minh đã lợi dụng “chính sự phiền hà” của nhà Hồ để chớp lấy thời cơ xâm chiếm nước
ta. Bước chân xâm lược của chúng giày xéo lên đất nước ta khiến nhân dân vơ cùng ốn hận,
căm thù. Cũng lợi dụng điều đó mà bọn gian tà chỉ biết nghĩ đến lợi ích của cá nhân đã tiếp
tay cho kẻ thù xâm lược để mang lại những vinh hoa, lợi lộc cho bản thân mà khơng chiến
đấu vì nhân dân, tổ quốc.

Giặc Minh đã gây ra những tội ác không thể dung tha:

(4)

( 4 )

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ mn nghìn kế,
Gây binh kết ốn trải hai mươi năm.

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa sạch khơng đầm núi”.

Nhân dân ta phải chịu cảnh khổ cực, lầm than dưới gót chân xâm lược của chúng. Chúng đem
“nướng”, “vùi” nhân dân ta trên ngọn lửa và “dưới hầm tai vạ”. Chúng cai trị nhân dân ta
bằng các loại thuế vơ lí, các kế sách lừa lọc nham hiểm và cả sự tra tấn dã man, hung bạo.
Những người dân vô tội phải chịu sự áp bức, bóc lột nặng nề của giặc Minh.

Khơng chỉ vậy, chúng cịn hủy hoại cả mơi trường sống, mơi trường tự nhiên của dân tộc ta:
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt”.

Chịu sự đô hộ của quân Minh cũng đồng nghĩa với việc nhân dân ta phải đối mặt với sự cai
trị tàn bạo và những hành động hung hãn của chúng. Chúng vơ nhân tính đến mức bắt ép dân
đen “xuống biển dòng lưng mò ngọc”, “vào núi đãi cát tìm vàng”, bắt nhân dân ta đến những
nơi nguy hiểm ln rình rập, đe dọa đến tính mạng để tìm kiếm những vật có giá trị cho qn
cuồng Minh. Nhân dân ta bị biến thành nô lệ cho kẻ thù và cũng là miếng mồi ngon cho các
loài động vật cá mập, thuồng luồng hung dữ. Chúng xâm chiếm nước ta để vơ vét hết sản vật
quý hiếm như chim trả dùng để làm áo và đệm, hươu đen dùng để làm vị thuốc bổ. Có thể

nói, tham vọng xâm lược nước ta của giặc Minh vô cùng lớn.

nói, tham vọng xâm lược nước ta của giặc Minh vô cùng lớn .

Khơng chỉ đẩy dân ta vào nguy hiểm, chết chóc mà chúng cịn “tàn hại cả giống cơn trùng
cây cỏ”. Do quân Minh “máu mỡ bấy no nê chưa chán”, xây nhà đắp đất liên miên nên nhân
dân ta rơi vào cảnh ngộ đầy bi thương, khốn khổ:

“Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi”.

Những tội ác của quân Minh không sao kể hết bởi lẽ:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được”?

Ngay cả trúc Nam Sơn, nước Đông Hải cũng không thể ghi hết tội ác và rửa sạch mùi dơ bẩn
của quân xâm lược. Những hành động tàn ác, dã man của chúng khiến trời đất cũng không
thể dung tha huống chi là con người. Câu hỏi tu từ cuối đoạn thứ hai đã nhấn mạnh thêm một
lần nữa tội ác của kẻ thù. Chúng ta không thể nào tha thứ cho những kẻ đã tàn sát đồng bào,
tàn hại cả cây cỏ thiên nhiên của đất nước mình.

(5)

( 5 )

bóc lột trắng trợn mà nhân dân ta phải gánh chịu trong suốt thời gian chúng “Gây binh kết
oán trải hai mươi năm”.

3. Phân tích Bình Ngơ đại cáo đoạn 1 – mẫu 2

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba có cơng lớn trong cơng
cuộc dẹp giặc Minh đem lại nền thái bình thịnh trị cho nước nhà. Ơng cịn là một nhà văn nhà
thơ lớn với khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm cả văn học chữ Hán và chữ Nơm. Trong đó
phải kể đến một số tác phẩm như: Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập, Quốc Âm thi
tập, Ưc Trai thi tập… Đại cáo bình Ngơ được coi là áng “Thiên cổ hùng văn” muôn đời bất
hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Trong đó, cốt lõi
là phần đầu tác phẩm với lý tưởng nhân nghĩa được thể hiện rõ ràng:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo của Đại cáo bình Ngơ, là mục tiêu chiến đấu vô cùng cao cả
và thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Mở đầu bài cáo tác giả nêu luận đề chính
nghĩa. Việc nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở đây là “yên dân” và “trừ bạo”. “Yên dân” chính là
giúp dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, như vậy dân có n thì nước mới ổn định, mới phát
triển được. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy
luật tất yếu trong mọi thời đại là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia.

Nguyễn Trãi thật tài tình khi nhận ra và khai sáng thành cơng vấn đề cốt lõi ấy. Việc nhân
nghĩa tiếp theo chính là “trừ bạo” ý nói đến quân Minh, bọn gian tà chuyên đi bóc lột nhân
dân. Bọn chúng thẳng tay hành hạ, cướp bóc, vùi dập dân ta trong vực thẳm của sự đau khổ.

“Yên dân”, “trừ bạo”, hai việc này tưởng như không liên quan đến nhau nhưng lại là hai yếu
tố có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau, vì nếu khơng n dân tất trừ bạo khó yên, chúng
được nhấn mạnh và tiến hành cùng lúc, thống nhất với nhau. Quan tâm đến sự yên ổn, no ấm
cho dân cũng đồng nghĩa với việc phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù của dân, diệt trừ những kẻ
tham tàn bạo ngược, cụ thể là bọn “cuồng Minh” giày xéo lên cuộc sống nhân dân, gây ra bao
tai hoạ.

“ Yên dân ”, “ trừ bạo ”, hai việc này tưởng như không tương quan đến nhau nhưng lại là hai yếutố có tính năng tương hỗ, bổ trợ cho nhau, vì nếu khơng n dân tất trừ bạo khó yên, chúngđược nhấn mạnh vấn đề và thực thi cùng lúc, thống nhất với nhau. Quan tâm đến sự yên ổn, no ấmcho dân cũng đồng nghĩa tương quan với việc phải chiến đấu đánh đuổi quân địch của dân, diệt trừ những kẻtham tàn bạo ngược, đơn cử là bọn “ cuồng Minh ” giày xéo lên đời sống nhân dân, gây ra baotai hoạ .

Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi khơng cịn là phạm trù đạo đức hạn hẹp mà là
một lý tưởng xã hội: phải chăm lo cho nhân dân được sống cuộc hạnh phúc, yên bình. Điều
quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí. Ơng
khơng nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn tác giả đi
vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Khơng những thế, nhân nghĩa cịn

gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc
lập dân tộc:

gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, khẳng định chắc chắn chủ quyền lãnh thổ vương quốc, niềm tin độclập dân tộc bản địa :

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập
Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.

(6)

( 6 )

Nam Quốc Sơn Hà, Lý Thường Kiệt chỉ xác định được hai yếu tố về lãnh thổ và chủ quyền
trên ý thức quốc gia cùng độc lập dân tộc thì trong Bình Ngơ đại cáo, NguyễnTrãi đã bổ sung
thêm bốn nhân tố nữa, gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Đây chính là
điểm sáng tạo cho thấy trí tuệ của Nguyễn Trãi. Ở mỗi một quốc gia, nền văn hiến ngàn năm
không ai có thể nhầm lẫn được, cương thổ, núi, sơng, đồng ruộng, biển cả đều được chia rõ
ràng. Phong tục tập quán cũng như văn hoá mỗi miền Bắc, Nam cũng khác. Ở đây, Nguyễn
Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng khơng thể nhầm lẫn, thay
đổi hay xóa bỏ được. Cùng với đó là từng triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền. Qua
câu thơ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lí, Trần” của ta ngang hàng với “

Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Quốc, điều đó cho ta thấy, nếu khơng có một lịng tự
hào dân tộc mãnh liệt thì khơng thể nào có sự so sánh cực kì hay và tinh tế như vậy. Cuối
cùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của
chính mình. Tuy thời thế “mạnh, yếu từng lúc khác nhau” song hào kiệt thì đời nào cũng có,
câu thơ như lời răn đe đối với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thơn tính Đại Việt.
Từ năm yếu tố trên, Nguyễn Trãi đã khái quát gần như toàn diện về nền độc lập của một quốc
gia. So với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, Bình Ngơ đại cáo thật sự hay hơn, đầy
đủ, toàn diện hơn về nội dung cũng như tư tưởng xuyên suốt. Ngoài ra, để nhấn mạnh tư
cách độc lập của nước ta, tác giả cịn sử dụng cách viết sánh đơi nước ta và Trung Quốc: về
bờ cõi, phong tục – hai nước ngang bằng nhau, về triều đại-bốn triều đại cường thịnh của ta so
với bốn triều đại của Trung Quốc cùng nhân tài thời nào cũng có đã chứng tỏ ta khơng hề
thua kém chúng.

Hán, Đường, Tống, Nguyên ” của Trung Quốc, điều đó cho ta thấy, nếu khơng có một lịng tựhào dân tộc bản địa mãnh liệt thì khơng thể nào có sự so sánh cực kỳ hay và tinh xảo như vậy. Cuốicùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định chắc chắn nền độc lập củachính mình. Tuy thời thế “ mạnh, yếu từng lúc khác nhau ” tuy nhiên hào kiệt thì đời nào cũng có, câu thơ như lời răn đe so với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thơn tính Đại Việt. Từ năm yếu tố trên, Nguyễn Trãi đã khái quát gần như tổng lực về nền độc lập của một quốcgia. So với “ Nam Quốc Sơn Hà ” của Lý Thường Kiệt, Bình Ngơ đại cáo thật sự hay hơn, đầyđủ, tổng lực hơn về nội dung cũng như tư tưởng xuyên suốt. Ngoài ra, để nhấn mạnh vấn đề tưcách độc lập của nước ta, tác giả cịn sử dụng cách viết sánh đơi nước ta và Trung Quốc : vềbờ cõi, phong tục – hai nước ngang bằng nhau, về triều đại-bốn triều đại cường thịnh của ta sovới bốn triều đại của Trung Quốc cùng nhân tài thời nào cũng có đã chứng tỏ ta khơng hềthua kém chúng .

Xuyên suốt đoạn thơ, Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều từ ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có
khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu” ,“đã chia”, “cũng khác” đã làm tăng
sức thuyết phục lên gấp bội. Nghệ thuật thành công nhất của đoạn một – cũng như là bài cáo
– chính là thể văn biền ngẫu được nhà thơ khai thác triệt để. Phần còn lại của đoạn đầu là
chứng cớ để khẳng định nền độc lập, về các cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch
sử chúng đều thất bại là chứng cớ khẳng định rõ nhất:

Vậy nên:

Lưu Cung tham cơng nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ơ Mã

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa ĐôSông Bạch Đằng giết tươi Ơ Mã

Việc xưa xem xét
Chứng cứ cịn ghi.

(7)

( 7 )

nghĩa, lẽ phải, chứ không như nhiều cuộc chiến tranh phi nghĩa khác, cho nên, dù thế nào đi
nữa, chính nghĩa nhất định thắng gian tà theo quy luật của tạo hóa.

Đại cáo bình Ngơ tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có.
Trong đó, phần đầu tác phẩm, với nghệ thuật biền ngẫu, đã nêu được hai nội dung chính gần
như hết bài cáo là nhân nghĩa và nền độc lập của dân tộc Đại Việt. Chính vì vậy, đoạn trích

có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta, khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nền
độc lập riêng của mình. Đoạn thơ giúp ta hiểu rõ chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc cũng
như lịch sử đấu tranh hào hùng của cha ông ta ngày trước, qua đó bồi dưỡng lịng u nước,
tự hào tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và củng cố độc lập chủ quyền nước nhà.
4. Phân tích Đại cáo bình Ngơ đoạn 1 – mẫu 3

có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta, khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nềnđộc lập riêng của mình. Đoạn thơ giúp ta hiểu rõ chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc cũngnhư lịch sử đấu tranh hào hùng của cha ông ta ngày trước, qua đó bồi dưỡng lịng u nước,tự hào tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và củng cố độc lập chủ quyền nước nhà.4. Phân tích Đại cáo bình Ngơ đoạn 1 – mẫu 3

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại rừng núi Lam Sơn – Thanh Hóa. Sau 10 năm chiến
đấu gian lao và anh dũng, quân ta đã quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập, tự
do cho đất nước và dân tộc.

Đầu xuân năm 1428, Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi viết bài “Bình Ngơ đại cáo”, tổng kết
những chiến công oanh liệt trong 10 năm kháng chiến và tuyên bố Đại Việt bước sang một kỉ
nguyên mới “Muôn thuở nền thái bình vững chắc”.

Phần đầu “Bình Ngơ đại cáo”, Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, đồng thời ca ngợi
nền vàn hiến rực rỡ lâu đời của Đại Việt. Nhân nghĩa là mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

Yên dân, điếu phạt, trừ bạo là cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa, tất cả đều hướng về con người,

về nhân dân đang bị áp bức lầm than. Thuơng dân, đánh kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt lũ
tham tàn, bạo ngược (trừ bạo), cứu nhân dân thốt khỏi chết chóc đau thương, đem lại cuộc
sống yên vui hạnh phúc cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa.

về nhân dân đang bị áp bức lầm than. Thuơng dân, đánh kẻ có tội ( điếu phạt ), tàn phá lũtham tàn, bạo ngược ( trừ bạo ), cứu nhân dân thốt khỏi chết chóc đau thương, đem lại cuộcsống yên vui niềm hạnh phúc cho nhân dân ( yên dân ), đó là việc nhân nghĩa .

Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến là một tư tưởng vô cùng cao đẹp: đánh giặc để cứu
nước, cứu dân, vì độc lập của đất nước, vì tự do, hạnh phúc, hịa bình của nhân dân. Việc
nhân nghĩa nên rất chính nghĩa. Nhân nghĩa là sức mạnh vô địch để chiến thắng quân “cuồng
Minh”.

“Đem đại nghĩa để tháng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

Nhân dân ta giàu nhân nghĩa nên lấy nhân nghĩa để xây dựng và phát triển nền văn hiến lâu
đời, rực rỡ của Việt Nam. Nếu ở “Nam quốc sơn hà”, Lí Thường Kiệt chỉ mới nói đến sơng
núi nước Nam là nơi “Nam đế cư”, lãnh thổ thiêng liêng ấy đã được “định phận rõ ràng ở
sách Trời”, thì ở “Bình Ngơ đại cáo”, Nguyễn Trãi đứng trên đỉnh cao thời đại “Bình Ngơ”
đã có một cái nhìn mới sâu sắc và toàn diện về đất nước, nhân dân Đại Việt:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đà lâu

Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cùng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập

(8)

( 8 )

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Nước Đại Việt đâu phải “man đi mọi rợ” mà rất đáng tự hào.Có nền văn hiến đã lâu, Có lãnh
thổ, núi sơng, bờ cõi, Có thuần phong mĩ tục, Có nền độc lập trải qua nhiều triều đại “xưng
để một phương”,Có nhân tài hào kiệt.

Năm yếu tố ấy hợp thành đã tạo nên tầm vóc Đại Việt, sức mạnh Đại Việt để đánh bại mọi
âm mưu xâm lược bành trướng của Thiên Triều, lập nên bao chiến cơng chói lọi.

“Lưu Cung tham cơng nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ơ Mã”.

Giọng văn đĩnh đạc hào hùng. Lí lẽ sắc bén, đanh thép và lối diễn đạt sóng đôi, cân xứng của
những câu văn biền ngẫu đã khẳng định và ngợi ca tầm vóc lịch sử lớn lao của Đại Việt, biểu
lộ một ý chí, tự cường dân tộc cao độ.

Phần mở đầu đã góp phần thể hiện tuyệt đẹp giá trị tư tưởng và nghệ thuật của “Bình Ngơ đại
cáo”, bản tun ngơn độc lập, áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc.

5. Phân tích đoạn 1 Đại cáo bình Ngơ – mẫu 4

Nhân nghĩa xưa nay vốn là một nội dung rất tích cực của Nho giáo. Đó là sự hi sinh, thương
yêu và đùm bọc giữa con người với nhau. Thế nhưng, Nguyễn Trãi đã định nghĩa “nhân
nghĩa” rất lạ. Theo ông “nhân nghĩa” tức là phải yêu dân, phải lo đặt hạnh phúc của nhân dân
lên hàng đầu và hãy chiến đấu vì hạnh phúc đó.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Rõ ràng đây là một mục đích cao đẹp: Chiến đấu cho nhân dân. Thế đấy, đối với Nguyễn
Trãi, “nhân nghĩa” giờ đây khơng cịn là khái niệm mà phải biến nó thành hành động, thành

“việc nhân nghĩa”.

“ việc nhân nghĩa ” .

Vì cái đích rất cụ thể là giải phóng đất nước, đưa nhân dân thốt khỏi kiếp lầm than, khơng
phải làm thân phận súc nơ và có nguy cơ bị diệt chủng.

Tiếp theo bài cáo, Nguyễn Trãi đã cất giọng, khẳng khái xưng danh hiệu tên nước: “Như
nước Đạ Việt ta từ trước” và khẳng định: “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đúng thế, đây là
một quốc gia hoàn tồn độc lập, có một nền văn hiến đã rất lâu đời, có những “phong tục” tập
qn rất riêng khơng trùng lặp với bất cứ quốc gia nào khác, và quan trọng hơn nữa, đã bao
thế kỉ qua, nó vẫn cứ tồn tại bình đẳng và đầy kiêu hãnh bên cạnh cách triều đại của các
hoàng đế Trung Hoa.

“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

Vâng, nước Đại Việt đã bao đời nay vẫn hùng mạnh như thế. Tuy đất nước này chỉ là một
quốc gia nhỏ bé thôi nhưng cũng dám xưng “đế” như ai, quyết khơng chịu làm “vương” dưới
chân kẻ khác và cịn là một quốc gia đầy “nhân nghĩa”.

(9)

( 9 )

Lưu Cung tham cơng nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ơ Mã
Việc xưa xem xét, chứng cứ cịn ghi.

Sông Bạch Đằng giết tươi Ơ MãViệc xưa xem xét, chứng cứ cịn ghi.

Source: https://tbdn.com.vn
Category: Văn học

Viết một bình luận